Triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp.

Có nhiều nhóm triệu chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp, bao gồm các triệu chứng của viêm khớp, các triệu chứng toàn thân và các triệu chứng ở các cơ quan khác.

Các triệu chứng của viêm khớp:

-      Cứng khớp: làm hạn chế sự vận động của các khớp, xuất hiện vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, thường kéo dài trên 1 giờ trước khi cảm thấy các khớp mềm ra.

-      Sưng khớp: có thể có tụ dịch nhiều hoặc chỉ sưng phù lên.

-      Nóng: Vùng da của khớp viêm có thể ấm hơn vùng da xung quanh.

-      Đỏ: Da vùng khớp viêm có thể có màu hồng nhạt, đỏ hơn so với vùng da xung quanh.

-      Đau: Hiện tượng viêm làm cho các khớp trở nên nhạy cảm hơn, căng hơn, từ đó gây ra đau các khớp bị viêm.

Các triệu chứng toàn thân:

-      Mệt mỏi.

-      Trì trệ, suy nhược.

-      Chán ăn, có thể dẫn đến sự sụt kí.

-      Đau nhức mỏi cơ toàn thân.

Các triệu chứng ở các cơ quan khác:

-      “Nốt thấp”, có thể sờ thấy dưới da, thường ở khớp khuỷu, đôi khi rất đau.

-      Người bệnh có thể bị viêm màng phổi không triệu chứng, nhưng khi mà nhịp thở ngắn lại là lúc cần phải điều trị.

-      Có thể ảnh hưởng lên thanh quản gây khàn giọng.

-      Người bệnh có thể bị viêm màng ngoài tim, thường không có triệu chứng nhưng khi có triệu chứng thường là nhịp thở ngắn lại hoặc đau ngực. Người bệnh viêm khớp dạng thấp dễ bị tắc nghẽn động mạch tim, gây đau ngực hoặc nhồi máu cơ tim.

-      Khoảng dưới 5% số người bệnh viêm khớp dạng thấp có triệu chứng ở mắt, bao gồm mắt đỏ, đau mắt hoặc khô mắt.

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm đa khớp dạng thấp.

Trong giai đoạn đầu, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp rất khó khăn. Các thầy thuốc thường phải dựa vào 7 yếu tố sau để chẩn đoán bệnh này:

(1): Cứng các khớp và xung quanh khớp kéo dài ít nhất 1 giờ vào buổi sáng sau khi ngủ dậy.

(2): Tự nhiên (không do chấn thương) bị sưng khớp hoặc tụ dịch khớp của ít nhất 3 khớp.

(3): Ít nhất có một khớp nhỏ bị sưng (khớp cổ tay, khớp bàn hoặc khớp ngón tay).

(4): Biểu hiện của viêm các khớp đối xứng trên cơ thể.

(5): Có “nốt thấp”, là các cục sờ thấy dưới da, nằm ở vị trí chịu lực của cơ thể (thường là ở khớp khuỷu).

(6): Chỉ số yếu tố thấp (RF) cao bất thường khi làm xét nghiệm.

(7): Sự thay đổi biến dạng khớp thấy được trên XQuang tại những khớp bị viêm. Đây là yếu tố đặc trưng của giai đoạn muộn trong bệnh viêm khớp dạng thấp.

Khi có ít nhất 4 trong 7 yếu tố trên, và yếu tố xuất hiện đầu tiên đã lâu trên 6 tuần thì người bệnh được coi là bị bệnh viêm khớp dạng thấp.